Các phương pháp xác định độ chặt của nền móng

Thảo luận trong 'Kinh doanh Máy công nghiệp' bắt đầu bởi pingmaxno1, 22/4/16.

Lượt xem: 487

  1. Offline

    pingmaxno1 Thành viên chính thức
    • 1/6

    Bài viết:
    7
    Các phương pháp xác định độ chặt của nền đất

    Muốn xác định độ chặt của đất nền phải biết được những thông số và cách làm cơ bản theo tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu công trình đất nền.

    [​IMG]

    Tiêu chuẩn chất lượng quan trọng nhất trong công tác đắp đất công trình là độ chặt đầm nén (hệ số đầm nén K) hoặc khối lượng thể tích đất khô sau khi đầm nén (dung trọng khô của đất Ƴk) phải được thể nghiệm để bình chọn chất lượng so sánh với đòi hỏi ngoại hình.

    - Xác định ca đầm (hoặc số lượt đầm nén) theo điều kiện thực tế đạt độ chặt K theo yêu cầu mẫu mã. Đối với các hạng mục kiểu dáng không quy định độ chặt K thì căn cứ vào ca đầm theo định mức xây dựng để xác định dung trọng đất hoặc độ chặt đất ứng với ca đầm đó.


    - Hiệu chỉnh bề dày lớp đất rải để đầm.

    Đối với vật liệu có chứa sét như đất đồi, subase,v.v.. thì dùng bí quyết rót cát để xác định.

    Muốn đạt được độ chặt của đất tốt nhất khi đầm nén, đất đắp phải có độ ẩm hiệu quả. Độ ẩm của đất khi đầm lu chỉ được sai khác tối đa 10% đối với đất dính và 20% đối với đất không dính so với độ ẩm tối ưu của loại đất đó tìm được trong phòng thí điểm. Nếu đất ướt phải xử lí để hạ độ ẩm, nếu đất khô phải thực hiện tưới ẩm để độ ẩm đạt gần độ ẩm tối ưu. Việc xử lí tưới ẩm phải tiến hành ở ngoài khu vực đắp, đầm nén.

    - Xác định độ ẩm năng suất của đất khi đầm nén.

    Đối với cát thì sử dụng phương pháp dao vòng lấy mẫu tại hiện trường. Thường thì cứ 500m2 lấy 1 mẫu. Sau đó đem về sấy khô để xác định dung trọng khô max tại hiện trường. Lấy kết đấy chia cho dung trọng khô max khi xác định chỉ tiêu cơ lý của vật liệu cát dùng đắp nền thì được độ chặt .

    Một vài yêu cầu kĩ thuật thi công đắp đất


    - Trước khi đắp đất phải thực hiện nạo vét hết bùn hoặc đất hữu cơ. Chiều dày nạo vét phải căn cứ vào thực tiễn hiện trường. Đối với công tác vét bùn phải vét đến độ sâu mà đất tại cao độ đó có chỉ số độ sệt tìm được trong phòng thí nghiệm B<0,5 đồng thời phải tiến hành tiêu thoát nước ngầm hoặc nước mặt.

    - Khi rải đất đầm cần thực hiện rải từ mép biên tiến dần vào giữa. Đối với nền đất yếu hoặc bão hòa nước cần rải giữa trước tiến ra mép ngoài biên, khi đắp tới độ cao 3m xây dựng rải đất thay đổi lại từ mép biên tiến vào giữa.

    - Nếu đắp đất trên nền mái dốc có độ dốc từ 1:5 đến 1:3 phải thực hiện đánh cấp, kích thước một cấp rộng x cao. Độ dốc của mỗi bậc phải nghiêng về phía thấp. Nếu chiều cao của mỗi bậc nhỏ hơn 1m thì để mái đứng. Nếu chiều cao lớn hơn 1m thì để mái đến 1:0,5. Nếu nền là đất thiên nhiên lẫn nhiều đá tảng thì không cần xử lí đắp cấp.

    - Chỉ được rải lớp đất tiếp theo khi khi lớp dưới đạt độ chặt theo yêu cầu thiết kế. Không được phép đắp nền những công trình dạng tuyến theo cách đổ tự dưng đối với đa số các loại đất.

    - Đối với nền đất và nền đất tự nhiên có độ dốc lớn hơn 1:3 thì công tác xử lí nền phải thực hiện theo chỉ dẫn của mẫu mã.

    - Nếu nền bằng vận hoặc có độ dốc 1:10 đến 1:5 thì phải đánh xờm bề mặt.
     
    #1

Chia sẻ trang này

Chào mừng các bạn đến với diễn đàn học SEO chúc các bạn có những giây phút thật zui zẻ!
X